(Tiếp theo phần 1)
……..Như đã chiều, chiếc xe khởi hành từ sáng sớm, bây giờ mới đến bùng binh Đinh Tiên Hoàng – Kontum, chúng tôi đã ở giữa lòng thành phố. Đây là một thành phố nhỏ, tuy ngồi trên xe “cỡi ngựa xem hoa”, nhưng tôi đã thấy được hình như sức sống ngày nay ở nơi đây đã thực sự sinh sôi. Nhớ mới ngày nào lên đây, tôi đã nghe nhiều người kể, ở đây xưa kia không chỉ là vùng đất chết “ban ngày là của Quốc gia, ban đêm là của “con ma” Cộng sản” mà còn có người gọi là “Rừng thiêng nước độc”. Nơi đây trước kia khi con người ở mọi miền chưa di cư đến sinh sống, làm ăn là rừng núi âm u. Nhưng có con người rồi là bắt đầu nạn đại dịch sốt sét triền miên không tha từ năm này sang năm khác. Nghe kể những năm ấy, thành phố nhỏ này mỗi ngày có đến năm ba người chết chỉ một con bệnh “Tác oai, tác quái!” – Sốt rét này!.Ma chay, hương khói khắp nơi, mỗi khi nghe chuyện, trong tôi như có luồng điện chạy từ đỉnh đầu xuống đến tận chân tê buốt, cái xương sống nghe như lành lạnh...làm sao!
Đoạn đường lên tiếp Gia Lai, Buôn Mê qua thành phố Kontum này cũng ngắn. Khi xe chúng tôi chỉ vừa rời khỏi thành phố là những rừng cao su bạt ngàn, chúng tôi len lỏi giữa cánh rừng “Vàng trắng” với những lá sum sê. Cũng phải gọi là “Vàng trắng” chứ với sản phẩm này tôi không còn cách gọi khác hơn!? Thử hỏi có biết bao sản phẩm phục vụ cho con người để kể là xuất phát từ cao su thiên nhiên (!?), từ cái lớn cho đến cái bé, từ đồ chơi của trẻ em đến “đồ chơi” người lớn cũng là từ dòng nhựa trắng của cây cao su này đó sao!?
Tôi đến Buôn Mê trong chiều muộn, những cơn gió se se ùa qua ô cửa xe. Cái gió thật là dễ chịu của miền cao nguyên. Cô bé xinh đẹp ngồi bên tôi ngủ vùi lúc nào chẳng hay, rồi cô ta chợt thức giấc khi phiên gió ùa reo, cô ngơ ngác cựa mình rất khẽ , dải khăn choàng cổ màu xanh của lá khẽ bay bay . Nhìn cảnh quan nơi đây, tôi có cảm tưởng Tây Nguyên như một cô gái đẹp bên tôi trông thật hoang sơ và thánh thiện.
Vừa đặt chân xuống thành phố Buôn Mê, tôi bị hai người bạn thân “bắt cóc” đến quán nhậu “Tây Nguyên” nằm trong lòng thành phố. Mới đặt chân đến một vùng đất mới, tôi có cảm tưởng rằng, ban đêm nhịp sống thường nhật của con người ở lắng xuống như thành phố Tam Kỳ hay một thành phố khác ở miền Trung vậy, nhưng tôi cảm nhận được linh hồn của mảnh đất này dường như đã sống dậy và luôn luôn lan tỏa. Có lẽ người Buôn Ma Thuột không thích đi ra đường vào buổi tối, và tôi cũng thấy hàng ăn, quán nhậu cũng ít hơn Tam Kỳ nhiều.
Sáng sớm, trời chuyển hẳn sang màu sáng, trông mát lạnh, khí hậu như đã “Thanh lọc cơ thể” những chất men của tối hôm qua . Mới hôm qua tôi còn ở Quảng Nam trời buổi sáng cảm thấy hanh hanh vậy mà qua đêm đầu tiên ở Buôn Mê say khướt nhưng sáng ra cái khí hậu ở đây đã làm tôi như khỏe hẳn. Tôi ngồi nhâm nhi một ly cà phê Ban Mê thật đậm sau bữa ăn sáng và phì phèo một điếu thuốc trên môi. Nếu ví von rằng tôi đã thích ly cà phê Ban Mê là một thứ… tình yêu thì có vẻ nghe tôi đã dùng từ…… “quá sang” và cũng hơi phù phiếm, nhưng tôi cũng phải nói rằng gần là như thế. Bởi chỉ với ly café nơi đây được ngồi nghe trong tiếng nhạc Trịnh Công Sơn nhè nhẹ, dõi cặp mắt xa xăm không định, rồi có lẽ ai cũng sẽ lưu luyến trước sự quyến rũ của cà phê nơi thành phố cao nguyên này đó. Một tay “ghiền” cà phê tại sao bao giờ cũng café Buôn Mê mà không phải loại Café nơi khác. Tôi nghĩ vậy và thấy Café thật ngon dù chỉ là có một mình.
Tôi hớp ngụm café cho ấm bụng rồi bách bộ tìm một quán Net viết gì mình muốn viết. Tôi tự nghĩ thầm trưa nay về “Mặt trận Phước Long” đường hãy còn xa xôi lắm!. Hạt sương mai vẫn còn long lanh trên ngọn cỏ vệ đường. Tôi có cảm giác lành lạnh và tôi đã ho, chợt nghe như ở tận cổ dâng lên nỗi cô đơn trên con đường xa xôi còn lại, ước gì chuyến đi này tôi cùng em đi nhỉ. Lấy hoài cảm về một tình yêu, tôi “định vị” cho hành trình đi tiếp. Cứ nghĩ vậy, tôi mới cảm thấy mình mạnh mẽ đầy can trường và ấm áp.
11 giờ 30 xe vừa chạy ra khỏi thành phố Ban Mê, hướng về Dak Min cảnh núi non lại bắt đầu hiện ra trong tầm mắt, tôi chợt nghĩ Nhà thơ Tố Hữu viết “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!” dành riêng cho nơi này mới phải và mới đúng với cái đẹp trong hỗn mang, mông muội của núi rừng này. Quang cảnh nhà cửa hai bên đường của người dân trông thật khá khang trang. Đó là thành quả của những con người từ mọi miền đất nước đến đây với đôi cánh luôn mơ ước chinh phục miền đất mới và khám phá. Con người ở đây là hiện thân nỗi khát khao mạo hiểm, can đảm đi tìm sự sống và không thích quẩn quanh cùng quá khứ ở chốn sinh ra vì đã bao đời nghèo khó.
Tôi nghĩ, hôm nay khi đã thật sự hồi sinh, họ có thể viết về chính mình, về cuộc đời, về những mãn nguyện, tất nhiên sẽ là câu chuyện cổ tích được viết “ở thì hiện tại”, sẽ không nhạt nhẽo và phẳng lặng như mặt hồ…… Phú Ninh (!?). Họ đã sống vì sự sống, vì ai, vì cái gì, vì lý tưởng nào người ta hướng tới? Vì điều khởi nguồn nào cho người ta biết phải hy sinh và gian khổ trong những ngày tháng đầu khốn khó?! Tôi nghĩ họ không có chiếc đũa Thần nào cả, cùng lắm là chiếc La bàn đưa họ hướng tới và định vị cho tương lai.
Xe cứ đi, tôi cứ miên man suy nghĩ nhiều, điều chẳng biết là đến nơi nào đây!?. Tôi giật mình bởi tiếng chuông điện thoại của BS Huy gọi : "Ông đến đâu rồi mà sao lâu quá vậy!?,chiều nay tôi biết Tam Kỳ nhậu ở Đường 24-3, Sài Gòn nhậu ở “Quân khu 7” mà tôi phải chờ đón ông…….chưa nhậu !”. “Huy à, đường xấu lắm Huy ơi, chắc trễ hơn dự định” – Tôi trả lời
Chập choạng tối, xe mới đến Ngã ba Bù Na, tôi vừa bước xuống xe là đã thấy BS Huy đứng đó tự bao giờ, Huy đợi đón tôi như chờ người tình là một cô nàng đỏng đảnh. Làng xóm đã thật sự về đêm ,cơn mưa đầu mùa rơi nghe tí tách, nhìn BS Huy tôi thật sự cảm động, ôi sao tôi thương Huy quá Huy ơi …..(Còn tiếp)
Andi Nguyễn Ánh Nhật


.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét