Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Những chuyến ngao du - (KỲ 14: Ai đi Tây Nguyên gọi mình với nhé!)





Tiếp theo kỳ 13:

Tôi hay đi đó đây đến một vùng đất nào cũng là để ngao du, để tri âm với bạn bè xa cách, là cách thỏa mãn sở thích của chính mình. Hơn nữa đi đâu tôi cũng muốn trắc nghiệm cuộc sống một cách hiện thực và sinh động bằng trực quan. Đời người có va chạm, có biết điều này, điều khác trong sinh tồn rồi dẫu có khi cuộc sống lỡ bước hay tuyệt vọng, thành công hay hạnh phúc thì cũng đều mang đến cho tôi điều thỏa mãn….

Như một điềm buồn, có thể đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp lại, tri âm với bạn bè cũ của chung, sau hơn hai mươi năm xa cách, cũng là lần cuối chúng tôi có bên nhau. Đi và ghi chép tôi đã viết được 3 kỳ những kỷ niệm chúng tôi có nhau ở Tây Nguyên, những cuộc gặp gỡ cùng bạn bè với biết bao niềm vui.

Ở đời có tình bạn nào đẹp hơn, trước hôn nhân đôi bạn trẻ từng là bạn bè cùng học một trường Đại học, cùng quê. Cuộc sống có tình bạn nào quý hơn khi trong tình bạn ăm ắp hình ảnh những tháng ngày yêu thương thật đẹp. Họ lại từng là vợ chồng với nhau, đầu ấp tay gối và dâng hiến với nhau tận cùng cảm xúc. Không còn gì cả! Họa chăng chỉ còn Cát chết!. Dẫu nỗi buồn sẽ không dễ gì phôi phai, năm tháng còn lại là nỗi nhớ không nguôi... nhưng tôi xin post tiếp những gì chúng tôi từng có....

                       Bên nhau tại Quảng Trường Đại Đoàn Kết - Pleiku
KON TUM – MẶT TRỜI CHIẾU NGHIÊNG!

…..Tôi bỗng dưng nghêu ngao hát: “Thành phố buồn lắm tơ vương, cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn” , rồi phá lên cười nắc nẻ cho sự lãng mạn ngây ngô của mình trước việc con người mang văn hóa của mọi miền đất nước đến Măng Đen để đẻ ra văn hóa Tây Nguyên……

Tôi suy nghĩ mông lung, rồi hỏi ông bạn ngồi bên cạnh (người Kon Rẫy) về nguồn gốc từ Măng Đen, sao tên gọi đọc không gần giống với nhiều địa danh ở tỉnh Kon Tum như Kon Rẫy hay Konplong. Dù hơi mệt, nhưng ông ta đã chậm rãi giải thích cho tôi: “Măng Đen là tên một địa danh mà người kinh đọc chệch ra từ tên địa danh T’Măng Deeng của người M’Nâm. Tiếng M’Nâm, từ T’Măng có nghĩa là: ở nơi hoặc vùng; Deeng có nghĩa là bằng phẳng và rộng lớn. Vậy T’Măng Deeng dịch ra tiếng kinh có nghĩa là ở nơi bằng phẳng, rộng lớn (bãi bằng). T’Măng Deeng có từ rất lâu đời, gắn với truyền thuyết huyền thoại của dân tộc M’Nâm”.

Từ Măng Đen chúng tôi ngược về Kon Rẫy chỉ có hơn 20 km, nhưng ngồi trên ô tô, tôi nhẩm tính cung đường này có đến …52 khúc cua!. Đường khá tốt nên khi chiếc xe phóng nhanh hơn lúc trèo đèo Violac và liên tục bẻ chặt những khúc cua làm mọi người trên xe đều mệt nhòa và buồn nôn vì phải luôn ở trong trạng thái chao đảo, ngã nghiêng. Là một người “trường kỳ” với những chuyến xe ngược xuôi đến nhiều vùng miền đât nước, nên tôi vẫn khỏe và cảm nhận được tất cả những gì đã thực sự sinh sôi ở mảnh đất vùng núi này.

Ngày xưa, khi người Pháp đến Tây Nguyên trồng cao su và khai thát tài nguyên mang về chính quốc, họ vẫn luôn cho đây là vùng khép kín, biệt lập, ngưng trệ và bảo thủ. Nhưng sau những phát hiện khảo cổ tại nhiều vùng ở Kon Tum như ở Lung leng, ở Konplong v.v.v thì luận điểm ấy cũng như nhiều giả thuyết khác của lịch sử đã bị đổ nhào. Với những “chứng cứ” khai quật được thì ra địa bàn này là một trung tâm văn hóa thời tiền sử, không những mở rộng giao lưu với các nhóm cư dân khác mà còn bảo vệ được bản sắc văn hóa của mình. Đó là những là những vết tích công cụ ghè đẽo trong lớp đất Laterite ở Lung Leng đã gợi nhiều người nhớ lại công cụ của cư dân hậu kỳ đá cũ được tìm thấy tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam, tiêu biểu cho nền văn hóa Sơn Vi có niên đại từ 20.000- 30.000 năm. Hay loại di tích được tìm thấy tại Kon Tum người ta cũng đã tìm thấy tại làng Vạc (Nghệ An), nơi mà lớp văn hóa là khu mộ táng Đông Sơn….

Còn ngày nay, khi đi và chứng kiến nhà cửa cư dân hai bên đường từ Măng Đen về Kon Tum, tôi nghĩ, nếu ai đó như DH của tôi lần đầu tiên biết nơi này thì mọi ý nghĩa như người Pháp từng nghĩ cũng sẽ bị đảo lộn. Nhà cửa của người dân tộc M’Nâm được xây cất khang trang. Hình như ngày nay các nền văn hóa đã được người dân tộc thiểu số giao lưu, như ngay tại điểm đầu bước vào huyện Kon Rẫy, một cô bé M’Nâmđón xe chúng tôi để về thành phố Kon Tum. Lên xe, cô bé ấy ngồi chung với chúng tôi cùng một dãy ghế, nếu chỉ nhìn cách ăn vận mà không nghe giọng nói thì chắc chắn ai cũng nghĩ đó là một cô bé người Kinh sành điệu.


     Cùng với bạn bè khi xưa học cùng trường Đại học Ngoại Ngữ Đà Nẵng
Chiếc xe chúng tôi chạy mải miết, nhìn hình ảnh có nhiều người ngược xuôi trên đường tỉnh lộ 24 như có vẻ xe đã chạy gần về đến thành phố. Đến 2 giờ chiều, chúng tôi bắt đầu chạm “cổng chào” thành phố Kon Tum. Bước vào thành phố Kon Tum, con đường dẫn Phan Đình Phùng chúng tôi đi thẳng tắp, rộng lớn đến 3 làn xe, không sầm uất, ồn ào như ở nhiều thành phố lớn khác. Song khi chiếc xe chạy đều đều, chậm chậm, trôi qua ô cửa xe là những ngôi nhà 2, 3 tầng với lối kiến trúc hiện đại, khang trang. Nhìn những ngôi nhà đẹp nằm trên con đường này, tôi nghĩ, đó là thành quả của người dân Kon Tum sau bao nhiêu năm lao động vất vả và phấn đấu ngay từ ngày đầu Kon Tum tách ra khỏi Gia Lai năm 1992. Một quần thể nhiều ngôi nhà ngói mới hiện đại và mái lợp thời nay không mang trong mình một chút gì để gọi đây là dáng dấp một khu vực tô giới hay nhượng địa xa hoa, hào nhoáng, thế giới ăn chơi kiểu mới của tướng tá Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hoặc của Mỹ để lại trong quá trình xâm lược Việt Nam. Vậy là thấm thoắt đã hơn hai chục năm trôi qua, nay ước vọng nhảy vọt của người Kon Tum đã sắp thành hiện thực.

Khi đã nhận phòng khách sạn và tắm rửa vội xong, chúng tôi mượn xe Honda lượn một vòng quanh thành phố Kon Tum. Dạo một vòng quanh thành phố được mệnh danh là “Làng cổ bên dòng sông Đăkbla ”, đôi mắt tôi không bắt gặp được một công trình kiến trúc nào cho là khổng lồ. Thành phố không Buiding, không có một công trình kỳ vĩ, nhưng qua cách ăn vận của người dân lã lướt cùng với những chiếc xe máy đời mới ngược xuôi trên phố. Du khách lần đầu đến Kon Tum vẫn có thể khẳng định nền kinh tế ở đây đã thật sự phát triển, nhưng mang một phong cách Tây Nguyên đặc trưng. Còn so với những nơi khác ở Tây Nguyên, Kon Tum địa hình bằng phẳng, không chộn rộn, nhiều dân cư và được gọi là phố núi như Pleiku, không rộng lớn và hiện đại như Buôn Ma Thuộc. Kon Tum xưa nay vẫn như một cô gái dịu dàng, đằm thắm, quý lắm nhưng cha mẹ cũng phải đành cho ra riêng cách đây hơn hai chục năm.

Về khách sạn đã hơn 10 giờ khuya, nhưng chúng tôi chưa ngủ vội, xách ghế ra ngồi nhìn bầu trời đầy sao. Nhớ những lần đi du lịch đó đây, chúng tôi không bao giờ đi ngủ sớm. Như lần ở Cù Lao Chàm lần trước, mười giờ đêm, tôi cùng DH dắt tay nhau đi ra cầu cảng. Giờ ấy hình như người dân vùng đảo nhỏ đã ngủ say. Hôm đó biển thật hiền, những con sóng nhỏ cứ lăn tăn vỗ nhẹ vào ghềnh đá dưới chân cầu. Ngồi trên phiếm đá ngắm biển, chúng tôi thật hạnh phúc ngắm bầu trời bình yên. Và mỗi chúng tôi, ai cũng được hít đầy vào lồng ngực vị tinh khiết của biển. Biển vắng mang cõi hồn chúng tôi đi lang thang trong khi bàn tay hai đứa nắm chặt để cảm ơn đất trời, cảm ơn cái chất lãng du của mỗi người đã đưa đẩy chúng tôi đến một khung cảnh đẹp và lãng mạn như thế này! Một đêm thật khó quên trong đời, tôi đã ôm hôn em ngây ngất giữa biển trời đầy sao !

Còn hôm nay, mùa đông miền Trung đang mưa phùn, gió bão, rồi cũng đến ngày người người sẽ thấm gió bấc từng cơn. Nhưng ngược lại, Kon Tum mùa này là mùa ấm áp nhất trong năm. Trời về khuya, thấy có chút gió se se lạnh, tôi khoác thêm cho mình chỉ một chiếc áo mỏng là đã nghe trong lòng người thật dễ chịu. Chúng tôi ngồi bên nhau như một cặp tình nhân, hình như đã khuya, DH khép vào lồng ngực tôi thỏ thẻ: "Khí hậu Kon Tum tuyệt quá anh nhỉ!?". Rất đúng, đông về, ai đi Tây Nguyên gọi tui mình với nhé! Để cho chúng tôi cùng hưởng một chút vàng của nắng, một chút khí thiêng của núi rừng về đêm lành lạnh..... Còn ban ngày, vòm trời trong xanh như viên ngọc. Hình như mặt trời luôn luôn chiếu nghiêng!.
                                           Những người bạn năm xưa!

 ẨM THỰC VÀ LY CAFÉ TÂY NGUYÊN

Kon Tum sớm mai, khi mặt trời bắt đầu ló dạng, ngọn cỏ bên đường ướt át, mềm mại bởi sương đêm. Dường như cây lá xanh hơn dưới ánh mặt trời vừa mới ửng hồng, nhìn mọi vật, tôi có cảm tưởng như báo hiệu tiếp một ngày cũng như mọi ngày mùa đông, nắng đẹp buông rãi đều khắp mọi buôn làng Tây Nguyên!.

Không khí ngoài trời rất dễ chịu, tôi xách xe Honda dạo một vòng quanh thành phố, nhân tiện cũng để kiếm cái gì bỏ bụng. Cuối cùng, chúng tôi bắt gặp một quán ăn đang rất đông thực khách và sạch sẽ. Hơn nữa, tấm biển quảng cáo đặt trước thềm hiên: “Phở - Cơm Tấm” đã níu chân tôi không cho đi tiếp. “Phở- Cơm tấm”, đó là những món ăn sáng mà tôi rất thích sau mấy chục năm sinh sống giữa đất Sài thành. Người Sài Gòn dù có đi Đông, đi Tây cũng ít khi nào gặp ăn được một bát phở như tại Sài Gòn chính gốc. Phở thơm lừng mùi ngò gai, ăn một miếng là nghe hồn quốc túy. Khi bước vào trong quán, thoáng nhìn người ngồi bàn bên cạnh đang ăn món phở khô trông gần giống với hủ tiếu Nam Vang của người miền Nam, hơi ái ngại nên tôi gọi món “Cơm Tấm sườn nướng”. Liếc mắt nhìn món “Cơm Tấm” chị chủ quán gắp, xới vào đĩa để chuẩn bị bê ra cho chúng tôi: Hạt cơm hình như không được nấu bằng gạo tấm. Chị gắp một lát Tàu hủ chiên, một ít đồ xào linh tinh, một miếng sườn đã nướng từ khi nào chẳng rõ và cộng thêm một lát chả trứng chiên. Rồi tiếp là một chén canh rau như cơm bình dân dành cho buổi trưa chiều ở mọi miền đất nước. Một thoáng ngỡ ngàng cho sự khác lạ cho món cơm tấm tại đây, tôi nhanh miệng đổi lại một bát phở, một đĩa cơm tấm cho hai người chúng tôi. “Nhanh trí” vậy cũng chỉ để là “chữa cháy” chuyện đã lỡ và muốn nếm thử hương vị ăn sáng ở Tây Nguyên, chứ tôi đoán chắc không thể nào hợp khẩu vị.

Bây giờ ngồi ghi loạt bài ghi nhận này, tôi không nói món ăn sáng ở Tây Nguyên ngon hay dỡ, hay nếu so sánh ẩm thực giữa miền này và miền khác cũng là điều khập khiễng. Nhưng sau khi ăn sáng tại Kon Tum, tôi lại càng nhớ và yêu món phở, món cơm tấm có gốc bự ở Sài Gòn nhiều hơn. Ẩm thực là nét văn hóa lâu đời khó thể thay đổi, trong khi đi du lịch vài ba ngày thì vấn đề này cũng là chuyện nhỏ.Còn đặc sản của Tây Nguyên? Ở đây phải nói có rất nhiều "của ngon, vật lạ", tôi sẽ đề cập trong kỳ sau.
       Cafe Adam nằm trên đường Phan Chu Trinh - Kon Tum
Tôi có một anh bạn, khi đi Tây Nguyên về hài hước: "Nều lên trên đó mà không đi uống Cafe là ....mất nửa cuộc đời!". Riêng tôi nhiều lần lên Kon Tum chơi thắm thú, tôi biết người dân Kon Tum nói riêng hay Tây Nguyên nói chung vốn rất sành về cà phê, cái gu thưởng thức của họ cũng rất đặc biệt, nó trở thành sắc độ văn hóa ẩm thực độc đáo. Ngay cả cái quán bình dân cũng phảng phất một phong cách Tây Nguyên. Người dân ở đây uống café thuộc số đông so với nhiều vùng miền khác. Họ có thể uống cà phê: sáng-trưa-chiều-tối, khi buồn, vui, suy tư, căng thẳng hay chỉ vì thói quen không thể bỏ, nhưng không phải loại cafe nào cũng có thể được chấp nhận hoàn toàn. Còn một điều đặc biệt nữa là hầu như các thành phố ở Tây Nguyên không có café hẽm như Sài Gòn hay những thành phố khác.

Nói đến café Tây Nguyên tôi cũng xin vòng vo đôi chút. Người dân Tây Nguyên uống cafe không chỉ là thói quen ưa thích mà đây còn là nét văn hóa đặc biệt đầy tinh tế, cá tính của mỗi người. Và hình như thức uống này đã thâm trầm mê hoặc cả một vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ. Cách thưởng thức cà phê của người Tây Nguyên thường không đòi hỏi lượng cà phê trong ly phải nhiều và cách uống thì luôn chậm rãi, nhấp từng hớp nhỏ để cảm nhận. Tôi may mắn được đi nhiều nơi và thưởng thức cà phê tại nhiều vùng khác nhau, nhưng khi so sánh tôi có thể khẳng định rằng không đâu cà phê ngon như ở Tây Nguyên. Cũng với những sản phẩm cà phê đó nhưng mỗi nơi có mỗi cách thưởng thức, pha chế khác nhau, như các tỉnh phía Bắc lại thích uống cà phê có vị đắng chát, loãng và ít quan tâm đến mùi vị tự nhiên, miền Trung thì lại ưa chuộng độ sánh, ngậy và khét, còn văn hóa uống cà phê của người miền Nam thì thích loãng, nhạt, số lượng cà phê nhiều và ít độ béo. Còn riêng thành phố Kon Tum tôi rất thích và hợp với gu cà phê nơi đây. Ăn sáng xong, chúng tôi cùng một vài người bạn đang làm việc tại thành phố này kéo nhau đi cafe A -Dam nằm trên đường Phan Chu Trinh.

Bước vào quán nằm ngay giữa thành phố, nhưng tôi có cảm tưởng đứng giữa buôn làng thâm u mang đậm nét Tây Nguyên. Nhìn những chậu phong lan rừng tinh khiết, những cây giây leo bám rễ trên thân cây độc mộc xù xì, lòa xòa thả lơi những nhánh kiêu sa. Tất cả từng chi tiết đã mê hoặc tôi như một vũ điệu tuyệt luân giữa thiên nhiên hoang dại. Đẹp quá! Hai chúng tôi, mỗi người cứ để tự nhiên cảm xúc của mình trào dâng giữa một khoảng lặng không thanh âm. Và cảm giác tĩnh yên sâu lắng trong tâm hồn. 

Đến Kon Tum, khi ai đó đã thưởng thức Cafe tại quán này rồi, tôi nghĩ nếu đến nơi khác sẽ rất khó hài lòng và níu chân họ. Uống cafe ở quán Adam hôm ấy và một vài quán trong thời gian ở Kon Tum, chắc ai cũng đều nghĩ cafe là hình ảnh thu nhỏ của nếp sống văn hóa của người Kon Tum. Và nay cuộc sống đã tốt hơn nhiều nhưng người Tây Nguyên vẫn không ngừng vươn lên để tìm kiếm phồn vinh, hưởng thụ.....
(Còn nữa) Kỳ 15 : Tri âm - không là đó đây hay Đôi mắt Pleiku.
Andi Nguyễn Ánh Nhật




Nhà thơ PHAN TRƯỚC VIÊN ngày ấy....!


Kính hương hồn cậu ruột tôi. Thi sĩ PHAN TRƯỚC VIÊN

                         Di ảnh Thi sĩ PHAN TRƯỚC VIÊN
Phan Trước Viên – Tên thật là Nguyễn Công Chinh - Liệt sĩ, là nhà thơ của dân tộc, của Quảng Nam. Ông sinh ra và lớn lên tại Bình Tú, Thăng Bình, Quảng Nam. Phan Trước Viên còn có một người em ruột Nguyễn Công Chiến từng là Chủ tịch Hội học sinh ,sinh viên tranh đấu trường Trần Cao Vân – Tam Kỳ trong những năm kháng chiến ác liệt 1965 -1967 và đã hy sinh anh dũng lúc ấy. 

Thi sĩ Phan trước Viên là người đã chấp bút lời hiệu triệu cho Ban binh vận Miền trung, trung bộ được đọc và phát trên Đài phát thanh Đà Nẵng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân – 1968.


Chiến tranh đã đi qua được 38 năm, một khoảng thời gian đủ dài để mọi sự trở nên bình thường, nổi đau và mất mát nào rồi con người cũng đã nguôi ngoai, chấp nhận. Nỗi buồn chiến tranh?. Bây giờ ta chỉ còn nhìn bằng những trải nghiệm cuộc sống chứ không tái hiện lại chiều kích đau thương để lại sau cuộc chiến. Đó là ta phục dựng lại hình ảnh của những con người không trực tiếp cầm súng, nhưng bằng ngòi bút, bằng sự chịu đựng và sức mạnh anh hùng đã thực sự làm nên thành công cho cuộc kháng chiến. Người đã truyền đi những khát vọng hòa bình của cả một dân tộc Việt Nam. 

Và trong bài viết ngắn này, tôi không thể phân tích chi tiết nghệ thuật làm thơ, 150 bài thơ của PHAN TRƯỚC VIÊN để lại. Mà đây tôi chỉ đề cập một khía cạnh nhỏ cuộc đời và sự nghiệp - "Phan Trước Viên ngày ấy" – Một nhà thơ đích thực, người chiến sĩ cách mạng, người con của đất Quảng đã mang trong người tình yêu chân thực đối với quê hương trong nổi uất ức phải phản đối, chống lại chiến tranh cùng cả toàn dân.

Thi sĩ Phan Trước Viên bắt đầu làm thơ từ rất sớm, năm lên mười, dù câu chữ chưa được gọt giũa, nhưng ông đã viết được những vần thơ hay về Bác Hồ - Nhân ngày sinh nhật 19-5
“Trán Bác rộng một trời cao mãi mãi, 
Da Bác nhăn vì dân tộc lầm than. 
Màu da ấy, màu pha trời đất 
Màu quê hương chồng chất từ lâu” 
(Mừng 19-5 Sinh nhật Bác) 

Đến khi PHAN TRƯỚC VIÊN trưởng thành cũng là lúc phong trào văn nghệ sinh viên học sinh toàn Miền Nam tranh đấu vì hòa bình, dân chủ, độc lập và thống nhất Tổ quốc trải rộng trên khắp nơi. Lúc ấy, Phan Trước Viên gần như là người có mặt thường xuyên trên những trang báo “không chính thống” của Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, Sinh viên Huế; Tổng đoàn Học sinh Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ… Hay tuần san "Vùng lên" của Hội đồng Chỉ đạo Sinh viên Học sinh Sài Gòn (1964)

Thời bấy giờ, tuy tất cả những trang báo này in bằng bản roneo nhưng rất nổi tiếng và được nhiều người đọc hơn cả “Báo chính thống” công khai, được kiểm duyệt như Bách khoa, Văn, Văn học, Nghệ thuật, Văn nghệ Tiền phong . Và những chủ bút Tân Dân, Phổ thông, Bách Khoa đã không ngần ngại gọi thơ Phan Trước Viên –  là một “hiện tượng lạ” ở miền Nam với những bài thơ phản chiến và đanh thép. Trong cuộc kháng chiến của toàn dân, Phan Trước Viên cũng như những nhà thơ, nhạc sĩ khác đã đóng góp phần không nhỏ văn chương và nhạc cho cuộc chiến. Hơn nữa điều đó đã tạo được một giao diện phong phú cho thơ ca trong phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam trước 1975, nhằm đòi hòa bình, thống nhất đất nước. 

Người ta thường nói rằng “sự dũng cảm của thi nhân là trung thực với những cảm xúc của chính mình”. Cũng như thế, Phan Trước Viên đã viết theo lẽ tự nhiên tuân theo cảm xúc chân thật của mình: 
“Quê hương ơi! 
Ngày mai thù tan xác 
Mai tôi về đất tổ bình yên 
Những bạn tôi xả thân ngoài trận mạc 
Đời ghi công và sử sách đề tên”
(Lời nguyền) 

Phan Trước Viên - Một chiến sĩ cách mạng rất giàu cảm xúc với tình yêu quê hương, trong thơ, ông thường mô tả một hiện thực cảnh bi đát và điêu tàn đích thực của làng mạc Việt Nam trong chiến tranh. Đọc thơ Phan Trước Viên ta cũng rất dễ tìm ra trong thơ luôn có nội dung tư tưởng sâu sắc và thể hiện ngôn từ phong phú, thấm thía như chạm vào những khoảng lặng của tâm hồn: 
“Những lau sậy cúi đầu trong giông tố 
Những cành rau run rẩy dưới mưa rào 
Càng chống đỡ chúng càng thêm đau khổ 
Đành âm thầm chịu đựng với trời cao” 
(Lau sậy) 

Với tình yêu quê hương của mình, thời ấy, bài thơ “Hai mươi” của Phan Trước Viên đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ toàn Miền Nam năm 1964. Một Giải thuởng VĂN HỌC lớn thời ấy đã cho ta một góc nhìn độc đáo, khác lạ của con người trong thời chiến tranh, đó là họ rất thực trong thái độ nhìn nhận và ứng xử trớ trêu. Cũng xin nói một điều rằng, tuy đạt Giải nhất cuộc thi nhưng đây không phải một bài thơ toàn bích mà đó là một bài vừa phản chiến, vừa “mô tả” hình ảnh con người bình thường trong chiến tranh qua từng góc độ và khía cạnh. Bài thơ có đoạn: 
“Anh ơi! 
Quê hương mình xương chất Hận sông Gianh 
Buồn Bến Hải ngàn năm thời hiện tại 
Anh ở đâu? 
Sao nụ cười hoang dại? 
Tôi là tôi ngàn năm mãi vẫn cười 
Say chếnh choáng mong địa cầu tan vỡ” 
(Tuổi hai mươi)

Đến năm 1966, Phan Trước Viên và nhiều đồng đội của mình bị địch bắt và đưa ra xét xử trước Tòa án Quân sự Đà Nẵng, nhưng được trắng án vì không có cơ sở buộc tội, cũng như gặp sự phản đối quyết liệt của sinh viên học sinh cùng các lực lượng tiến bộ ở Đà nẵng và miền Nam. Cũng trong thời gian này Phan Trước Viên đã viết: 
“Đến nay có những người nằm trong tù ngục 
Nhớ quê hương vời vợi muôn trùng 
Những người đi mang nợ núi sông 
Chân chưa mỏi nhưng phải dừng trong tù ngục” 
(Quảng Đà quê ta ơi !) 

Năm 1967 sau khi ra tù, thi sĩ Phan Trước Viên về tiếp tục hoạt động cách mạng bí mật trong tổ chức F210 của Ban binh vận Miền trung trung bộ và bị bắt đi quân dịch tại Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 2 đóng tại Tuân Dưỡng – Quảng Nam. Trong thời gian tại đây nhà thơ đã viết: 
“Tôi là tôi đầu Ngô , mình Sở 
Phận con người viết mướn làm thuê 
Yêu văn chương 
Yêu sự thật của nghề nước mồ hôi tận tụy” 
Hay 
“Ta đã từng yêu từng sống 
Từng lao tù đày đọa tháng năm 
Từng đau thương, từng đọc sử ngàn năm 
Cần đạp đổ thành trì nô lệ” 
(Tuổi hai mươi) 

Việc trong lòng địch và làm thơ phản chiến đăng trên báo chí đã nói trên, cho thấy Phan Trước Viên đã vượt được qua “cánh cửa sắt” bằng một tư tưởng nhất quán, bằng một cây kim chỉ nam mà nhà thơ đã lấy làm định hướng xuyên suốt hành trình nghệ thuật của mình. Phan Trước Viên không chỉ bày tỏ thái độ không tán thành chiến tranh, mà chống lại chiến tranh bằng sự đồng cảm, chia sẻ với những con người đang phải gánh chịu những đau thương mất mát trong chiến tranh: 
“Anh về quê hương chiều cuối hạ 
Bãi vàng trắng chết trên sông
Con đò rách ven hàng dừa rũ lá 
Không một người qua nước bạc dòng” 
(Quê nhà) 

Tôi không phải là một người cùng thời với Phan Trước Viên, khi nhà thơ đi xa...., tôi chỉ mới vừa tròn một tuổi. Nhưng sau khi đọc những bài thơ Phan Trước Viên để lại, tôi mới hiểu rằng ông làm thơ thật phong phú thể loại. Mỗi bài thơ là một tình yêu quê hương, là nổi đau trong chiến tranh mất mát, là đời người cứ mong manh như một kiếp ve sầu: 
“Ta nhặt về đây những xác tàn 
Ve sầu chết giữa buổi thu sang 
Ai chôn một kiếp đời ngắn ngủi ?
Ai lượm dùm ta chiếc lá vàng?” 
(Thu) 

Và lần nữa, nhìn lại chiến tranh, ta có thể khẳng định sức sống, sức chiến đấu không thể phủ nhận của những con người làm nghệ thuật thời ấy. Phan Trước Viên đã dùng tài năng của mình để nói lên điều mà con tim muốn nói: 
“Ta kiêu hãnh chưa bao giờ khuất phục 
Dù những lần không tấc sắt trong tay 
Cũng có lúc gió mưa vùi sóng dập 
Cũng nhiều phen cam ngậm đắng nuốt cay” 
(Tiếng hát muôn đời) 

Đọc thơ Phan Trước Viên ta như sống lại một hiện thực lịch sử của những nhà thơ, nhà văn , nhà viết nhạc đã sống và chiến đấu ngay trong lòng địch. Họ đã bám trụ kiên cường, “đánh giặc” bằng những vần thơ thép, dẫu đó chỉ là bộc phát chưa có ai chỉ đạo "đường lối" văn học nghệ thuật. Thơ của họ có khi đó là những bài thơ với ngôn ngữ chân thật bằng sự chứng kiến trần trụi, khắc nghiệt của sự thật để cho mọi người hiểu được cái phi nghĩa, cũng như chính nghĩa của cuộc chiến và những bên tham chiến. Những ai từng đọc những vần thơ phản chiến từ những năm 1960-1975 đều thấy được, người làm thơ đã đau với nỗi đau chung của dân tộc, họ thao thức trăn trở, rung cảm đến tận đáy lòng bằng vần thơ.

Nhưng buồn thay, Phan Trước Viên - Số phận cũng như những người con của Miền Trung: Ngô Kha, Chu Cẩm Phong, Trần Quang Long, ông đã hy sinh khi tuổi đời tròn 27. Một độ tuổi sung sức nhất của một đời thơ, cũng như đời người còn tràn đầy niềm tin và biết bao dự định. Nhà thơ mất đi, đã để lại một gia sản hơn 150 bài thơ gồm những bài thơ phản chiền, tình yêu quê hương đất nước, thơ tình yêu lứa đôi. 

Phan Trước Viên đã hy sinh, thời gian mới đó, mới đây cũng gần 45 năm. Những đau thương mất mát trong chiến tranh khòi lửa cũng đã bao phủ lớp bụi thời gian, mọi chuyện ngày nay vẫn cứ diễn bình thường cho cuộc sống. Nhưng có một điều sự thật còn đọng lại mà không phải ai cũng có thể hiểu và cũng như đọc được những tập thơ của Phan Trước Viên – một ngôi sao sáng chói trên thi ca Việt Nam trong những năm khói lửa. Đó cũng là điều đáng tiếc nhất đối với Phan Trước Viên cũng như gia đình, người thân của nhà thơ. Theo tôi rất nhiều độc giả gần xa cả nước chưa biết đến Phan Trước Viên cũng vì nhiều nhẽ. 

Gia đình của thi sĩ Phan Trước Viên có bốn người đàn ông: Cha, Chú và Em đã anh dũng hy sinh - Liệt sĩ. Sau cuộc chiến, gia tài của thi sĩ còn cũng chỉ là bản thảo của những tập thơ, còn người thân ruột thịt là Mẹ, Chị và con nít (Mẹ của Phan Trước Viên- Bà Lê Thị Ấm là BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG). Khi Phan Trước Viên mất đi, những bản thảo của ông cũng mất nhiều. Tuy Phan Trước Viên vẫn còn nhiều bạn bè thân thiết như: Nhà thơ Nguyên Sa, Tường Linh, Nhà Văn Vũ Hạnh, Nữ văn sĩ Hà Khánh Linh (Nguyễn Khoa Như Ý) v.v.v nhưng không thể phổ biến thơ ông đến nhiều người đọc, bởi nhiều điều trong cái gọi là "chính trị" sau cuộc chiến. 

Với hơn 150 bài thơ phản chiến Phan Trước Viên đã sáng tác trong quãng đời ngắn ngủi, nhưng thơ ông cho đến nay chỉ được giới thiệu vài ba bài trên Báo Văn nghệ trẻ của Hội nhà văn Việt Nam, Báo Quảng Nam, Tạp chí Đất Quảng và in chung trong tuyển tập “Tiếng hát những người đi tới” (NXB Trẻ 1995) . Một tác phẩm đồ sộ của "Văn nghệ sĩ Liên khu V" đã được Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, khi còn sinh thời ông đã chấp bút cho đề tựa tuyển tập thơ, văn, nhạc, họa này và ông đã đánh giá đây là “Những bản hùng ca của dân tộc”. Còn trong tạp chí Đất Quảng, nhà thơ Đông Trình từng nhận xét: “Phan Trước Viên là một người anh, là một người thầy của chúng tôi, là một trí thức cách mạng và lãng mạn nên thơ của Phan Trước Viên luôn luôn là sự kết hợp tư tưởng yêu nước và tư tưởng hiện sinh…. “ 

Trong những năm sau này khi lớn lên, tôi vinh hạnh được gặp lại nữ văn sĩ nổi tiếng Hà Khánh Linh (Tên thật Nguyễn Khoa Như Ý) người yêu, người vợ sắp cưới của thi sĩ. Với Hà Khánh Linh và Phan Trước Viên, đó là một câu chuyện tình yêu đẹp, tình yêu cùng chung lý tưởng, cùng niềm giao cảm. Tình yêu của họ còn là tiếng gọi đàn giữa những tâm hồn đồng điệu, giữa những ngọn lửa nhiệt huyết trong chấp nhận và dấn thân. Họ lãng mạn đến và yêu nhau ngay từ những dòng thơ trao qua gởi lại, còn thêm nữa - Một câu chuyện tình yêu thiêng liêng và cảm động. Nhưng rồi họ mất nhau vì tù đày, vì chiến tranh chia cắt, khi còn sống Phan Trước Viên đã viết: 
“Anh sẽ đưa em về
Trên con đường cát bỏng 
Làng ta ven chân đê 
Lửa tràn qua thôn xóm 
Cơn mưa dài lê thê”
 hay 
“Dỗ dành em ngủ say 
Đừng hỏi gì anh nửa 
Ta còn đôi bàn tay 
Ta còn nguyên khối óc 
Là ta còn ngày mai…..” 
(Nếu chúng ta còn sống) 

Với tình yêu đôi lứa, trong thơ Phan Trước Viên luôn phảng phất hương vị lãng mạn và chia ly. Có thể Phan Trước Viên không có ý hướng làm một bài thơ mang nặng tính nhân bản. Nhưng với đất nước trong cảnh gian nguy, những vần thơ ấy đã thể hiện sự hy sinh vô bờ bến cho cuộc chiến tranh thần thánh mà tình yêu riêng tư luôn đặt nhẹ hơn. Phan Trước Viên đã viết: 
“Rồi em đi tôi không cầm lại được. 
Hỏi về đâu? Tôi chỉ thấy em buồn 
Tôi đưa em đến bên bờ ngõ hẹp 
Gió ban chiều rung mái tóc huyền buông” 
(Thế rồi ba năm sau) 

Do vậy, sau những gì đã lượt qua, chúng ta có thể nhìn nhận rằng Liệt sĩ Phan trước Viên là một thi nhân cách mạng – một thi nhân không ký thác, buông xuôi đời mình trong cuộc chiến và cũng không lãng đãng, phiêu bồng trong cõi nhân sinh mà thật sự trung kiên, bởi vì nhà thơ từng viết trên tạp chí "Phổ thông" thời ấy:
“Mỗi ngọn cỏ xanh, một niềm hy vọng 
Trên từng nắm xương liệt sĩ anh hùng 
Ta đứng thẳng nhìn mặt trời dậy sóng 
Mạch sóng trào theo nước thủy triều dâng” 
(Tiếng hát muôn đời) 

Kết thúc bài viết ngắn này, nhân kỷ niệm 45 năm ngày mất của nhà thơ, tôi xin được thắp một nén nhang tưởng niệm, đây còn là một sự ngưỡng mộ như của mọi người đối với Phan Trước Viên lúc sinh thời hay nay lúc đã đi xa…. Xin được kính cẩn nghiêng mình trước Phan Trước Viên – một nhà thơ tài hoa xứ Quảng đã lặng lẽ ngã xuống vì độc lập tự do cho Tổ quốc… 


NGÕ VẮNG!

Có một cô gái từng nói: “Nếu được chọn một ngày để khóc cho những phong ba cuộc đời tôi sẽ chọn ngày hôm nay vì ta có đôi bờ vai để nức nở, để chia sẻ và hôm nay là một ngày đáng để nhớ....”. Còn tôi?. Dừng chân bên đời, tôi đã thấy một “ngõ vắng” giữa cuộc đời có thực tại và ước mơ. Lúc đầu với bao khuôn mặt lạ, rồi dần già thành quen. Cuộc đời là mênh mông, biển người rộng vô cùng, nhưng làm thế nào để người với người có thể nhận ra nhau và sống yêu thương!?.  
Hạnh phúc cho những ai đã có đôi. Hạnh phúc cho những ai đã tìm ra ẩn số. Dẫu biết cuộc đời còn nhiều gian khổ, nhưng được bên nhau, gian khổ có còn đâu là cái cớ!?  
Tôi đã tìm được trên bước đường đi vào ngõ vắng một ánh mắt dễ thương, một nụ cười dễ mến, có lúc thật xao xuyến và tràn đầy nhớ thương. Tôi đã để cho cảm xúc nơi trái tim mình dẫn đường vào ngõ, không chút toan tính, bon chen của đời thường mà lạc lối.  
Tôi đã tin vào tình yêu, tin vào ngày mai cho tình yêu mãi mãi! Như hôm nay tôi đã thấy có gió ngọt mưa hiền đang reo ngoài song cửa, có giọt đã len lén bay vào nhà …….. “bỗng thấy yêu thương”.
Tôi xin cảm ơn “mảnh đất nhỏ” này để tôi chép lại câu: “Một người hạnh phúc không phải là người được sống trong hoàn cảnh thuận lợi nào đó, mà là một người có thái độ sống đúng trước bất kỳ hoàn cảnh nào….”.  
Đã 46 năm rồi, đời người còn lại bao nhiêu nữa nhỉ(!?). Chẳng biết, nhưng tôi đã may mắn sinh sống ở mảnh đất Sài thành với thời gian hơn 20 năm, không bao giờ là phung phí. Và mấy năm gần đây tôi trở về “tha hương ngay trên quê quán” để kinh doanh và sinh sống, chắc cũng đã thua bạn bè nơi này cũng chừng ấy năm!. Tôi nghĩ người đời có khi nói đúng: "Trong cái sự vô tình tạo thành duyên nợ, và những duyên nợ tạo thành sự vô tình !”.  
Nay tôi cũng chừng này tuổi, lại phải bước đi trong cuộc đời bằng bước chân lạc bước với “quê nhà”, có khi lại quá nhọc nhằn của một cuộc hành trình mới. Ngày lại, ngày qua, tôi vẫn nện gót đi về trên ngõ vắng có những niềm vui và niềm hạnh phúc, có những khoảng lặng buồn khi trái tim “trái gió trở trời” vì những quan tâm không vụng dại như của thuở còn thơ …..  
Một thành phố nhỏ của miền Trung với nhiều đặc điểm như bao thành phố khác miền này là có nhiều ngõ nhỏ, đâu có phải như nơi xưa nay tôi sinh sống ở Biên Hòa hay Ở Sài Gòn, “Một ngõ vắng xôn xao nằm trong lòng phố lớn….. Một quê hương nhưng lại thiếu quê nhà…”.
Ngõ vào nhà tôi ở thành phố nhỏ này thường ngày hình như vắng lặng. Tôi đã đi về nơi đây ba năm rồi hơn một triệu dấu chân, vậy mà cứ mỗi lần nện gót, tôi vẫn cứ thấy buâng khuâng khi dạo trên ngõ nhỏ. Cuộc sống tôi không bao giờ so sánh những điều khập khiễng, như Sài Gòn chỉ có hai mùa: mưa và nắng. Mùa này trời Sài Gòn thường đổ những cơn mưa bất chợt, đường phố cũng đã trở nên dịu mát hơn nơi tôi đang đã…….. “tha hương”.  
Tôi đã từng yêu Sài Gòn dù nơi này cuộc sống chen chúc chật chội và bon chen cho dòng người bất tận, đến giờ cao điểm là kẹt xe, chuyện rất thường ngày của phố. Nhưng rất dịu khi trời đổ mưa khiến cái đầu mình nhẹ lại, dẫu vẫn xung quanh là tiếng ồn của pô, tiếng kèn với khói không hề giảm bớt. Vậy mà tôi đã yêu từ khi mới đặt chân đến, và nhì nhằng kiếm sống cũng được 20 năm.  
Còn ở nơi đây, đó là một thành phố quá trẻ, chưa phát triển thêm điều gì cho mới. Thành phố có biệt danh "không có ngã Tư", nay cũng chỉ thêm vài con phố, nhưng người qua lại vắng tanh. Cách thành phố này chỉ mười mấy cây số là đất mẹ quê tôi.  
Ngõ vào nhà tôi đang sống, mùa xuân nào êm ả, tôi cùng em thư thái dạo trên cống thoát nước bê tông còn đang dang dở. Trong xóm nhà ai cũng có một hàng rào kiểu mới, bằng những lá bê tông xếp ngay thẳng tắp, đằng sau là những mảnh vườn “cải thiện” mơn mởn những luống hành ngò ngát thơm. Tôi không khép chặt tâm hồn mình khi nhiều điều cứ ngỡ! Tôi đã thả hồn với gió xuân để đưa lá đến một nơi thật xa, như cho nỗi buồn bay đến nơi nào ấy. Dù lá có lìa cành nhưng tôi tin ngày mai là ngày nắng ấm, rồi từ cành cây kia sẽ nhú lên những chồi non, bên mình tôi vẫn có người đang thật sự yêu thương và quan tâm đến mỗi bước chân mình nện gót.  
Ngõ đường nào mùa hè bẵng lặng, có những buổi trưa hè oi nồng, khi tôi ngồi bên cửa sổ đăm chiêu nhìn ra một khoảng trống, gió cứ hiu hiu lay động bao cành hoa lá dại và tôi đã yêu để nhớ về một thời trai trẻ và quên đi một thoáng hôm nay những bề bộn cơm áo, đời sống lo toan sao quá khó, chưa quen.  
Con đường nào mùa thu thật buồn, buồn đâu phải bởi mùa thu không có “Mùa thu và hoa cúc” mà “chỉ còn anh và em”, cũng đâu phải bởi những gót chân tôi lơ đễnh với cặp mắt chưa quen!?. Mùa thu buồn bởi một nụ cười xa vắng khi tôi đã nghe cô bé hàng xóm nhà bên cất hát lên thật nhẹ nhàng và dịu ngọt : “Em ru gì? Lời ru cho anh một đời đam mê, một đời giông tố, lời ru bao tiếc nuối tiếc, nuối tiếc một đời ước vọng tàn phai ….." !?. Một lời hát đã giúp sức thật nhiều cho tôi, khi tôi đã quá đam mê mà rong ruổi nhưng vẫn không thấy nhọc nhằn nhiều.  
Mùa thu hạnh phúc khi tôi đã nắm lấy tay em dạo bước trên ngõ vắng chẳng lá, chẳng hoa mà còn ghồ ghề bởi cống rãnh bê tông, tôi thong thả bước khi nghĩ cuộc đời đã có nhau.....  
Mùa thu nơi đây, có lúc tôi chẳng cần ….mùa thu, tôi chỉ cần một không gian yên lặng để em hiểu giùm tôi, rằng tình yêu trong tôi, em đã biết lớn đến đâu!?  
Thu vẫn mãi là thu, tôi luôn tâm niệm sống đẹp với chính mình, với cuộc đời, rồi mai kia, khi gặp chiếc lá thu rơi, tôi sẽ mỉm cười mà giữ chặt trong tay để nhớ một mùa thu em là nguồn cảm hứng vô tận cho tôi  
Lối nhỏ nào mùa đông là những ngày chứa chan phiền muộn vì mưa, vì gió, tôi vẫn cứ hàng ngày đi về lầm lũi mưa đông. Rồi có đêm, tim tôi thắt vì một niềm thương yêu theo đêm rất dài, dường như vô tận. Nếu trong hôn nhân nhớ nhung là những điều rất cũ và phiền nhiễu vô cùng, nhưng tôi vẫn nhớ em dù khi ở bên nhau.  
Rồi cũng có ngày mưa phùn hay giông bão! Tôi đã yêu em như chưa từng được yêu, tưởng như tôi đã chết trong nỗi cuồng si của trái tim  
Mùa này, sáng sớm thường có những giọt nắng len vào khung cửa sổ. Có những đêm khuya tôi giật mình bởi ánh trăng xuyên qua vòm cây trứng cá trước ngõ.  
Vậy là ngõ vắng tôi yêu có một chút vàng của nắng, một chút buồn của trăng và một chút tê tê nơi đầu lưỡi. Rồi trong những đêm khuya, mọi âm thanh nơi ngõ vắng đã cùng nhau lặng yên, từ môi em tôi lại thấy người lâng lâng như đã uống chút rượu khe nồng em vừa nấu, mang nhãn hiệu tên em.  
Cảm ơn em, tôi đã yêu em, như yêu hơi thở của mình, yêu mỗi ngày cho trái tim tôi được yêu.





TAM KỲ - CHUYỆN ĂN NHẬU THÌ HIỆN TẠI (Kỳ 1)



 
Mồi ngon!
NHỮNG CON ĐƯỜNG BIA BỌT.
Nhớ hôm tôi từ Sài Gòn ra thăm Tam Kỳ, khi xe vừa chạm ranh Núi Thành, tôi nhấc gọi cho anh bạn thân Trần Việt, đang công tác tại Công ty truyền tải điện lực miền Trung là tôi đã ra gần đến. Tuy chưa gặp mặt để tay bắt mặt mừng, nhưng anh bạn của tôi cứ đòi nằng nặc trước mắt tôi đến đường Bạch Đằng bên bờ sông Bàn Thạch để làm….. “sương sương”. Cũng theo anh bạn Trần Việt, mùa nắng này ai về Tam Kỳ và có muốn trốn nắng khi gặp phải khí hậu miền Trung không quen, nên đến ven bờ sông này nhâm nhi vài lon bia lạnh là sẽ thấy…”mát trời ông địa”. Ở đây, dân nhậu sẽ đón được những ngọn gió từ cánh đồng ruộng Tam Phú mang hơi nước từ mặt sông Bàn Thạch thổi lên thì không có điều gì lý tưởng bằng(?). Khi nghe ông bạn nói vậy, dù trong bụng cũng nửa tin nửa ngờ, nhưng tôi vẫn đến thẳng nơi anh ta chỉ dẫn. Quả thật con đường này nằm ở ven sông, đẹp và thơ mộng nhưng có cả “rừng” quán ăn nhậu ì xèo. Vừa gặp tôi tại nơi ấy, anh bạn Trần Việt này còn hài hước: “Ở Tam Kỳ hiện nay trên là trời, dưới đất là quán nhậu đó ông bạn xa quê!”.


Vậy ở Tam Kỳ hiện nay có bao nhiêu nhà hàng, quán nhậu lớn và nhỏ? Theo số liệu điều tra dân số mới nhất trong 13 đơn vị hành chính của thành phố Tam Kỳ có 123.662 nhân khẩu. Nhưng thực ra nếu đi thống kê tại địa bàn thành phố này có bao nhiêu quán nhậu thì không thể biết số lượng bao nhiêu, nói đúng hơn chưa có một con số nào cho chính xác. Và tôi đã có một cuộc “điều tra xã hội học” nhỏ là đi hỏi một tay “ngồi ở quán nhậu nhiều hơn ở nhà” kể tên tất cả 13 phường xã thuộc thành phố Tam Kỳ này, thì ra anh ta không nhớ. Nhưng khi tôi hỏi đến tên các quán nhậu có ở Tam Kỳ hiện nay?. Vậy chỉ mới trên đường Huỳnh Thúc Kháng và đường 24-3 là anh ta kể tên vanh vách, và anh ta còn biết cả tên người chủ các quán cóc xệp xệ, lèm nhèm sáng tối bên vệ đường.

Ở Tam Kỳ hiện nay, có thể nói quán nhậu có ở mọi đường, cả trong ngóc ngách hẻm ngõ. Và chỉ tình riêng như con đường “bia bọt” Lý Thường Kiệt trong một lần chúng tôi đi “khảo sát” và tôi đã đếm thử từ đầu đường là Hoa viên Hoàng Nam đến cuối con đường là bệnh viên Nhi- Quảng Nam, một con đường chỉ dài hơn một cây số, nhưng số quán nhậu ở đây tính được khoảng trên 60 quán lớn có biển quảng cáo và còn nhiều quán cóc nằm trên vỉa hè tại đây không đếm xuể. Đó một con số đủ làm ai lần đầu nghe cũng phải kinh ngạc.
Có hôm tôi dạo trên con đường này về đêm, đi chưa hết con đường, rất nhiều quán xá ăn nhậu sáng trưng và quán nào cũng rất đông thực khách, tôi lại có một thoáng suy nghĩ: “Lý Thường Kiệt ngày xưa ông ta thật là lẫm liệt và khí phách, nhưng không biết ông có nhậu nhẹt gì không mà nay con đường mang tên ông lại dập dìu nhiều quán nhậu đến thế !?” 


Nhớ ngày mới thành lập tỉnh Quảng Nam (1997), nhiều con đường mới mở như Hùng Vương, Lý Thường Kiệt, Đường Bạch Đằng, Nguyễn Văn Trổi tuy nhà cửa chưa được sung túc, nhưng đó là những con đường thơ mộng và bình yên, mỗi buổi chiều người người đi làm về đi ngang qua đây ai ai đều cũng có cảm giác êm ả lạ thường. Nhưng nay đã khác rất xưa, cứ chiều về là mọi người đều được nghe hàng loạt tiếng cụng ly chúc tụng nhau cộng hưởng với tiếng nói cười vang lên từ trong các quán nhậu như một “bản giao hưởng” khác lạ thường. Khi đi lấy tư liệu cho bài viết này, khi tôi chú ý một quán nhậu lòng bò trên con đường Nguyễn Hoàng thấy một người hình như là chủ xị nghêu ngao: “Chiều chiều nhớ lại …chiều chiều”. Ngay sau đó, những người còn lại trong bàn nhậu cùng vang lên: “một, hai, ba …dzô” là tiếng cụng ly kêu lên nghe chan chát. Xung quanh bàn các cô gái phục vụ hết gắp đá lạnh lại đến rót rượu, bia “hối hả”.
Nếu ngày xưa Tam Kỳ là một thị xã bình yên, người dân ít ra đường vào ban đêm và chỉ có vài ba quán nhậu có thể kể tên nằm trên ngã ba Trường Xuân. Nhưng bây giờ quán nhậu có ở mọi nơi, nó không chỉ làm con đường Lý Thường Kiệt như đã nói trên bị tổn thương trầm trọng mà những con đường khác nằm rất gần trung tâm văn hóa, trung tâm hành chính của tỉnh lỵ Quảng Nam như Huỳnh Thúc Kháng, dọc bờ sông Thạch Hãn, Nguyễn Thái Học, Trần Cao Vân, Tiểu La v.v.v đã trở thành những con đường bia bọt. Phải nói so với những gì xưa trước, khi Tam Kỳ còn là một thị xã hoặc chỉ mới đây những ngày đầu mới thành lập tỉnh Quảng Nam, dù chỉ mới 17 năm nhưng nay những cái đẹp ấy đã xa tít mù khơi.

Một lần trong đêm, tôi thử đi đếm trên đường Huỳnh Thúc Kháng chính xác có bao nhiêu quán nhậu?. Chỉ tình từ ngã tư Trần Dư – Huỳnh Thúc Kháng đến nơi con đường này giao nhau với đường Hùng Vương cũng chỉ khoảng 400 m, nhưng có đến 20 quán nhậu có biển quảng cáo nằm san sát nhau hai bên đường. Đoạn đường này lại tập trung khu vui chơi và văn hóa như: Trung tâm thanh thiếu niên tỉnh, Tỉnh đoàn Quảng Nam, Trường cao đẵng dạy nghề Quảng Nam và Trường trung học cơ sở Lý Tự Trọng, nhưng khi về đêm đây là khu phố ăn nhậu sầm uất. Đặc biệt hầu hết các quán nhậu ở đây ánh sáng tù mù dành cho phần đông là dân lao động và thanh thiếu niên. Khi khảo sát, tôi cũng chỉ thấy chỉ có một vài quán Café, chè, sinh tố thật là can đảm, lẻ loi còn tồn tại nơi đây. Thử một vòng tôi nghe rất rõ những tiếng va đập bởi ly rượu, bia chúc tụng nhau và có cả tiếng chửi thề vang lên cả khu này là một thứ âm thanh hỗn độn mà tôi chưa từng nghe  nơi đâu như ở nơi đây.
Ở con đường này, ai đó chỉ nhìn thoáng qua các biển quảng cáo rất đơn giản như Quán Hạnh, Quán Hà, Quán Trinh v.v.v, nhưng những món “đưa cay” được liệt kê trên tấm bảng nhỏ làm thực đơn thật là “hoành tráng” và khi đọc là đã nghe mùi bia bốc lên tới tận mũi. Phải nói đoạn đường Huỳnh Thúc Kháng này như một “quần thể” tùm lum vừa đáng sợ, vừa lại quyến rũ bởi thoang thoảng mùi mực, cá khô nướng, mùi gia vị tẩm chim cút và những món ăn khác ngát hương. Hằng ngày bắt đầu từ 4 – 5 giờ chiều là thực khách kéo nhau về cung đường này, xe máy đậu kín lòng đường và vỉa hè, họ bắt đầu… “hò nhau ăn nhậu”. Nhóm nhậu ốc hút, nhóm cốc ổi, nhóm nhậu chim chít nướng, họ ngồi chuyện trò rôm rả rồi kèm theo cả tiếng dzô, dzô liên hồi.
Tôi có một anh bạn nhà ở gần Quán Dung ngay cạnh trụ sở Tỉnh đoàn Quảng Nam, đây là một quán đông khách nhất trên con đường này. Có lần tôi hỏi anh ta: “Nhà mình ở đây gần quán có ảnh hưởng cuộc sống riêng tư nhiều không anh?”. Vốn là một người hài hước anh trả lời cho tôi: “Ông nhìn thử có ai như tôi, không ăn nhậu mà vẫn mập vì ngày nào cũng được hưởng mùi “xa xỉ” này”. Rồi anh ta nói thêm: “Nhà ở gần quán nhậu nên con gái tôi rất rành bọn con trai khi nhậu say bọn nó nói chuyện với nhau như thế nào và cả khi chúng choảng nhau bằng cái chi, tôi chỉ nói đơn sơ vậy là ông hiểu!” 
Tôi có lần theo mấy anh bạn ở Tam Kỳ dẫn đi giới thiệu một vài quán nhậu trên đường Hùng Vương. Con đường này có trường Đại học Quảng Nam và trường Cao đẵng Kinh tế Kỹ thuật Quảng Nam, không biết có phải vì đây là “khu văn hóa” hay không mà quán nhậu mọc trên địa bàn này … hơi ít. Sau một vòng đi “tham quan” các quán nhậu khác, rồi chúng tôi vòng trở lại dừng xe trước quán Thu Vân nằm trên trục lộ đường này. Thực khách quán này đa phần là những người đi xe hơi biển xanh, biển trắng. Khi chúng tôi bước vào quán, chị chủ quán trông còn rất trẻ và đẹp nhìn chúng tôi từng người “từ đầu đến chân” để biết có phải là khách sang. Và mặc dù thấy chúng tôi ăn vận như những “thằng giặc bại trận”, nhưng người chủ quán vẫn đon đả mời chúng tôi vào phòng vip. Khi thực đơn được cô tiếp viên trẻ đẹp mang ra, thức ăn thì cũng chỉ vậy, quanh qua quảnh lại cũng chỉ là những món ăn “truyền thống” ở vùng đất này: Gỏi hoa chuối, mực hấp, cá hấp cộng thêm vài ba thứ món rau cải linh tinh. Còn thức uống, không như các quán nhậu ở mọi miền, đa phần quán xá ở Tam Kỳ hình như chỉ có một “Gu”, đó là thực khách đều gọi bia Larue, chỉ thỉnh thoảng người Sài Gòn ra như tôi mới “duyệt” loại Bia 333 .
Khi tôi gọi cô tiếp viên mang ra cho tôi vài lon bia 333, anh bạn “Quảng Namhay cãi” của tôi liền phán: “Uống gì thứ bia ấy, nhứt đầu bỏ mẹ” (!?). Tiếp theo tôi nghe anh bạn của mình kể, mầy năm trước ở thành phố Tam Kỳ này tiếp thị bia “trăm hoa đua nở” của các hãng bia, nhưng sau đó một số loại bị dân nhậu ca thán là“din-cai-dau” (điên cái đầu) nên không uống nữa. Tôi nghĩ loại bia Sài Gòn 333 thơm ngon này trong miền Nammọi người rất thích nhưng chắc không phù hợp với khí hậu và người dân Quảng Nam.. Sau một giờ lai rai ở quán này, chúng tôi thấy không gian của quán có vẻ âm cúng, có thể ngồi nhâm nhi và trò chuyện riêng. Nhưng khi chúng tôi gọi tính tiền chỉ vài ba món lặt vặt và hơn chục lon bia, hóa đơn được mang ra cũng thật là hao xu so với mức sống và thu nhập của đa số bộ phận người dân ở thành phố này.
Hôm ấy chúng tôi xách xe chạy tiếp lên hướng ngã ba Trường Xuân, nơi đây xưa nay cũng được vài chục năm rồi nổi tiếng là “phố ẩm thực” của Tam Kỳ với những món ăn đặc sản Mì Quảng và Bánh xèo. Còn ngày nay những quán ấy vẫn còn buôn bán nhưng bị chìm nghỉm trước các quán nhậu ngày càng bành trướng xung quanh như minh chứng rằng cuộc sống hôm nay người dân đã qua thời thiếu đói.
Mấy năm gần đây dịch vụ bán kẹo kéo ăn theo các quán nhậu cũng giống như ở miền Namtrong nhiều năm trước, họ đổ về đây để giúp vui cho những tay nhậu với những bài hát Blero não nề như say. Khi tôi dừng lại một quán nhậu đối diện cây xăng Trường Xuân, thì thấy một bợm nhậu cao hứng giật micro của người bán hàng nghêu ngao: “Mười năm ăn nhậu một lần say khướt”. Quán cóc nhỏ, nhưng âm thanh của tiếng người, tiếng máy hát đều lớn cộng lại như một cái chợ chiều 30 Tết.


Khi nói đến những con đường bia bọt ở thành phố Tam Kỳ, mà không nói đến con đường Nguyễn Văn Trổi có chiếc cầu An Hà bắt ngang là một điều thiếu sót. Con đường này nối về vùng biển mới được làm nên khá khang trang, lại có đồng ruộng và dòng sông Thạch Hãn nên rất đẹp. Nhưng ngày nay tôi nghĩ có ai đó là một nhà thơ tài ba cũng không thể làm một bài thơ trữ tình về chiếc cầu và dòng sông này, bởi quán nhậu tràng giang khủng khiếp. Thời lạm pháp và bão giá nhưng nếu có người khách lạ từ phương xa qua đây, thoáng nhìn chắc sẽ nghĩ thành phố này rất bình an và sung túc.
Khi mùa nắng đến con đường này cũng “đến hẹn lại lên”, cứ chiều về là hàng vài chục quán đều có đông nghẹt người nhậu nhẹt. Mặc dù các quán xá ở đây khách hàng đa số là những người nhân viên, công chức của các công ty xí nghiệp, chiều về họ gặp nhau tại đây nâng ly để gọi là xả stress, như một nhu cầu tâm lý, một niềm vui sống ở thì hiện tại mà không có nhu cầu no hay ngon. Nhưng với đồng lương hiện nay của họ so với mặt bằng giá cả đang tăng cao, mà hằng ngày họ vẫn cứ đến đây nâng chúc thì cũng thật sự là lãng phí về thời gian và tiền bạc.
Có một đêm khuya đi về qua con đường này, tôi nhìn thấy ngoài những tấm biển quảng cáo quán nhậu liền kề sáng trưng, là cả trên những bàn và dưới đất quán nào cũng ngập ngụa vỏ lon bia. Tôi nhẩm tính cứ 3, 4 người lai rai cũng hết một thùng bia Larue, vậy một bàn vị chi cũng phải 2 thùng, thành giá 500.000 đ. Như thế không tính tiền mồi màng các kiểu, chỉ riêng tiền bia thôi, thực khách cũng phải trả cho mỗi quán ở đây hằng đêm đến cả vài chục triệu đồng như chơi.
Phóng sự ngắn này không thể nói hết chuyện quán xá ăn nhậu hiện nay mọc lên san sát trên các con đường lớn nhỏ trong thành phố Tam Kỳ. Ngày nay văn hóa cụng ly, nâng cốc hình như được mọi người lạm dụng cho mỗi khi vui hoặc buồn, chiến thắng hay thất bại…và cho vô vàn lý do khác nữa. Do vậy chỉ từ 9 giờ sáng là quán nào cũng luôn có người đến ăn nhậu, lai rai là một nỗi lo thật sự.
(Kỳ 2) - Quán ăn nhậu liên tục phát triển mừng hay lo? 



Hot girl Viet Nam Click Here
Hot girl in the world Click Here